あいさつのジェスチャー – CỬ CHỈ CHÀO HỎI
Ở Nhật Bản, khi chào hỏi ai đó, thường người ta sẽ cúi người và hạ đầu phía trước, thể hiện sự lễ phép gọi là "ojigi". Ojigi được sử dụng trong các lúc chào hỏi và bày tỏ lòng biết ơn. Độ cong lưng khi cúi sẽ thể hiện mức độ tôn trọng, và khi gặp bạn bè trên đường, chỉ cần cúi đầu nhẹ là đủ, không cần cúi sâu.
Ở Nhật Bản, hiếm khi có hành động ôm hôn hoặc sờ má khi gặp mặt. Bắt tay thỉnh thoảng được sử dụng trong thế giới kinh doanh nhưng không phổ biến trong đời sống hàng ngày.
Cử chỉ đặt hai tay chắp trước ngực được sử dụng ở Nhật trước khi ăn nhưng không phổ biến khi chào hỏi. Tuy nhiên, có một số hiểu lầm rằng cử chỉ này là biểu hiện của lễ phép chào hỏi ở Nhật Bản.
日本では、あいさつをするとき、腰を曲げ、頭を前に下げます。これを「おじぎ」 といいます。おじぎは、あいさつのときやお礼のときなどに使われるジェスチャー です。腰を曲げる角度が大きいほど、 敬意が高いとみなされます。道で知 り合いに会ったときなどは、首を曲 げて頭を少し下げるだけでかまいま せん。 人に会ったとき、日本ではハグをしたりビズ(頬と頬をつける)をしたりすることは、ほとんどあ りません。握手は、ビジネスの世界ではときどき使われることもありますが、あまり一般的ではあ りません。 両手を胸の前で合わせるジェスチャーは、日本ではご飯を食べる前には使われますが、人と会っ たときのあいさつには普通は使われません。しかし、このジェスチャーが日本のあいさつだと誤解 されていることも、少なくないようです。
「さようなら」のあいさつ “SAYOONARA”
"Sayoonara" là một lời chào tạm biệt nổi tiếng trong tiếng Nhật. Tuy nhiên, thực tế thường ít khi được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. "Sayoonara" thường được dùng giữa học sinh và giáo viên ở trường học, hoặc khi bạn nói lời tạm biệt với người mà có lẽ sẽ không bao giờ gặp lại. Như đã được luyện tập trong sách giáo khoa, khi bạn nói lời tạm biệt với những người bạn gặp thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày, thì trong các hoàn cảnh chính thức thường nói "失礼します" (shitsureeshimasu), còn trong các hoàn cảnh không chính thức thì thường nói "じゃあ、また" (jaa, mata).
日本語の別れのあいさつとして、「さようなら」ということばが知られ ています。しかし、実際の日常生活で「さようなら」が使われることは、 あまりありません。「さようなら」は、学校でのあいさつとして生徒と先 生の間で使ったり、もう会うことがない人に別れを告げたりする場面で 使ったりすることが多く、日常生活でいつも会う知り合いに別れのあいさつをするときは、教科書本文で練習したように、フォーマルな場面 なら「失礼します」、カジュアルな場面なら「じゃあ、また」などの言い方が一般的です。
「すみません」を使 つか うとき KHI NÀO SỬ DỤNG “ “SUMIMASEN”
"Sumimasen" là từ dùng để xin lỗi, nhưng cũng có những trường hợp chúng ta sử dụng "arigatou (gozaimasu)" để nói lời cảm ơn, và cũng có những trường hợp sử dụng "sumimasen" để cảm ơn.
Trong bài viết này, khi ai đó nhặt giúp đồ bị rơi hoặc nhường chỗ ngồi cho bạn, bạn có thể nói "sumimasen" để cảm ơn. Trong những tình huống này, nếu bạn cảm thấy hành động của người khác gây ra sự bất tiện hoặc gánh nặng cho họ, bạn sẽ dùng "sumimasen" để vừa xin lỗi vừa cảm ơn. "Sumimasen" một mình cũng đủ để biểu thị sự biết ơn.
Tuy nhiên, khi không có sự bất tiện hoặc gánh nặng nào cho đối phương, ví dụ như khi được khen ngợi hoặc chúc mừng, bạn không sử dụng "sumimasen" để cảm ơn.
Việc phân biệt khi nào nên dùng "sumimasen" và "arigatou (gozaimasu)" có thể khó, nhưng nếu bạn không dùng "sumimasen" mà chỉ nói "arigatou (gozaimasu)" khi cảm ơn, cũng không bị coi là bất lịch sự. Do đó, bạn luôn có thể dùng "arigatou (gozaimasu)" khi muốn nói lời cảm ơn.
「すみません」は謝るときに使うことばですが、お礼を言うときは、「ありがとう(ございます)」を使う場合と、「すみません」を使う場合 があります。 本文では、落とし物を拾ってもらったときや、席を譲ってもらったときに、「すみません」とお礼を言う場面が出てきました。このように、 ほかの人が自分のために何かしてくれたときで、そのために相手に不利益や負担がかかったと感じる場合、「すみません」ということばで、謝 りながらお礼を言います。「すみません」だけでもお礼を表す意味になります。 相手に不利益や負担がかかっていない場合、例えばほめられたときや、お祝いを言われたときには、お礼のことばとして「すみません」が 使われることはありません。 「すみません」と「ありがとう(ございます)」の使い分けは難しいかもしれませんが、「すみません」を使わないで「ありがとう(ございます)」 と言っても、失礼になることはないので、お礼を言うときはいつも「ありがとう(ございます)」とだけ言っても大丈夫です。

